Skip to content

Posts from the ‘Learning and Training’ Category

10
Apr

Đổi password trong E-learning (TMĐT)

Hiện tại, cô giáo đã gửi user và password của môn Thương Mại Điện Tử trong hòm mail của khối, riêng lớp Anh 4, tớ đã forward cho tất cả thành viên trong lớp, các bạn có thể check mail cá nhân. winking

Tớ đã đăng nhập, xem thử trang elearning.ftu.edu.vn như thế nào. Tất cả các bài đã update hết, và hiện h đã có bài quiz đầu tiên, chương I. Bạn nào chắc kiến thức có thể thử trước batting eyelashes

Tớ có một lưu ý cho cả nhà. Cả nhà nên đổi password ngay sau khi đăng nhập, tránh trường hợp người khác sử dụng user và password mà cô cung cấp cho các bạn làm bài kiểm tra và điểm thấp lè tè, hoặc post bài thảo luận lung tung thì sao happy. Đúng ko? winking

Cả nhà có thể đổi password như sau


Bước 1: Đăng nhập bằng tài khoản cô đã cho

Bước 2: Nhìn phía trên góc bên phải có chỗ “You’re login as tên đăng nhập của bạn (log out)”



Bước 3: Bạn click vào phần tên đăng nhập của bạn như hình dưới

Bước 4: Đổi pass và save lại (như hình vẽ dưới)


Have done. Xong rùi, lần sau mọi người đăng nhập bằng user và password mới nhé happy. Have fun happy

P/s: Bài này là bài câu view big grin hee hee  laughing
Ak quên, mọi người có ý kiến rì thì tranh luận ở dưới nhá blushing đừng buzz tớ tội nghiệp blushing (tớ đã nói là câu view mà lại rolling on the floor )

5
Apr

Tài liệu học tập

- Tài liệu môn Hải Quan

Thuyết trình Hải Quan các lớp  (2 khối A + C) http://www.mediafire.com/?zzovnkwgfnn

Slide Hải Quan: http://www.mediafire.com/?zqjzguy2lye

- Tài liệu môn Đầu Tư nước ngoài

Slide: http://www.mediafire.com/?24mikq0natz

Giáo trình (file mdi, mọi người search google cách mở nhé):  http://www.mediafire.com/?zznqzgzviay

- Tài liệu môn Quản trị tài chính

Slide http://www.mediafire.com/?2kddgwd0zyj

- Tài liệu Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh

Slide: http://www.mediafire.com/?4jnugmtymzk

20
Sep

Cách viết một báo cáo khoa học

magnify

BÀI BÁO KHOA HỌC VÀ CÁCH TRÌNH BÀY MỘT BÀI BÁO KHOA HỌC


image PHẦN 1: THẾ NÀO LÀ MỘT BÀI BÁO KHOA HỌC?

Nguyễn Văn Tuấn

TẠP CHÍ TIA SÁNG – Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học đóng một vai trò hết sức quan trọng. Nó không chỉ là sản phẩm tri thức, mà còn là một loại tiền tệ của giới làm khoa học, bởi vì qua đó mà người ta có thể đánh giá khả năng chuyên môn và năng suất khoa học của nhà nghiên cứu. Nhưng ngay cả trong giới khoa bảng và giáo sư đại học, có khá nhiều người vẫn chưa biết thế nào là một bài báo khoa học nghiêm chỉnh và có lẽ vì hiểu sai cho nên một số giáo sư đã trình bày trong lí lịch khoa học của mình một cách thiếu chính xác. Nói một cách ngắn gọn, bài báo khoa học (tiếng Anh: “scientific paper” hay có khi viết ngắn là paper) là một bài báo có nội dung khoa học được công bố trên một tập san khoa học (scientific journal) đã qua hệ thống bình duyệt (peer-review) của tập san. Ở đây có ba vế của định nghĩa mà bài này sẽ lần lược bàn đến: nội dung bài báo, tập san, và cơ chế bình duyệt.

Nội dung bài báo khoa học

Giá trị khoa học của một bài báo tùy thuộc một phần lớn vào nội dung của bài báo. Bởi vì báo cáo khoa hoc xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, giá trị của chúng cũng không nhất thiết đồng nhất. Sau đây là một số bài báo khoa học thông thường và tôi xếp loại theo thang giá trị (cao nhất đến thấp nhất).

Những bài báo mang tính cống hiến nguyên thủy (original contributions), nhằm báo cáo kết quả một công trình nghiên cứu, hay đề ra một phương pháp mới, một ý tưởng mới, hay một cách diễn dịch mới. Có khi một công trình nghiên cứu có thể có nhiều phát hiện mới, và cần phải có nhiều bài báo nguyên thủy để truyền đạt những phát hiện này. Cống hiến mới cho khoa học không chỉ giới hạn trong phát hiện mới, mà có thể bao gồm cả những phương pháp mới để tiếp cận một vấn đề cũ, hay một cách diễn dịch mới cho một phát hiện xa xưa. Do đó các bài báo khoa học ở dạng này cũng có thể xem là những cống hiến nguyên thủy. Tất cả các bài báo này trên nguyên tắc, đều phải thông qua hệ thống bình duyệt trước khi được công bố.

Những bài báo nghiên cứu ngắn (short communications), đây là những bài báo rất ngắn (chỉ khoảng 600 đến 1.000 chữ, tùy theo qui định của tập san) mà nội dung chủ yếu tập trung giải quyết một vấn đề rất hẹp hay báo cáo một phát hiện nhỏ nhưng quan trọng. Những bài báo này vẫn phải qua hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh, nhưng mức độ rà soát không cao như các bài báo cống hiến nguyên thủy. Cần phải nói thêm ở đây là phần lớn những bài báo công bố trên tập san Nature (một tập san uy tín vào hàng số một trong khoa học) là “Letters”, nhưng thực chất đó là những bài báo nguyên thủy có giá trị khoa học rất cao, chứ không phải những lá thư thông thường.

Những bài điểm báo (reviews). Có khi các tác giả có uy tín trong chuyên môn được mời viết điểm báo cho một tập san, thường tập trung vào một chủ đề hẹp nào đó mà tác giả phải đọc tất cả những bài báo liên quan, tóm lược lại, và bàn qua về những điểm chính cũng như đề ra một số đường hướng nghiên cứu cho chuyên ngành. Những bài điểm báo thường không qua hệ thống bình duyệt, hay có qua bình duyệt nhưng không chặt chẽ như những bài báo khoa học nguyên bản.

Những bài xã luận (editorials). Có khi tập san công bố một bài báo nguyên thủy quan trọng với một phát hiện có ý nghĩa lớn, ban biên tập có thể mời một chuyên gia viết bình luận về phát hiện đó.

Những thư cho tòa soạn (letters to the editor). Nhiều tập san khoa học dành hẳn một mục cho bạn đọc phản hồi những bài báo đã đăng trên tập san. Đây là những bài viết rất ngắn (chỉ 300 đến 500 chữ, hay một trang-tùy theo qui định của tập san) của bạn đọc phê bình hay chỉ ra một sai lầm nào đó trong bài báo khoa học đã đăng. Những thư bạn đọc thường được gửi cho tác giả bài báo để họ đáp lời hay bàn thêm. Và sau cùng là những bài báo trong các kỉ yếu hội nghị. Trong các hội nghị chuyên ngành, các nhà nghiên cứu tham dự hội nghị và muốn trình bày kết quả nghiên cứu của mình thường gửi bài báo để đăng vào kỉ yếu của hội nghị. Có hai loại bài báo trong nhóm này: Nhóm 1 gồm những bài báo ngắn (proceedings papers) thực chất là những bản tin khoa học ngắn (chỉ dài từ 250 chữ đến 500 chữ) mà nội dung là tóm tắt một công trình nghiên cứu. Nhóm 2 gồm những bản tóm lược (abstracts), (khoảng 5 đến 10 trang), mà nội dung chủ yếu là báo cáo sơ bộ những phát hiện hay phương pháp nghiên cứu mới. Cần nhấn mạnh rằng đây không phải là những bài báo khoa học bởi vì chúng chưa xuất hiện trên các tập san khoa học và qua bình duyệt nghiêm chỉnh. Phần lớn, nếu không muốn nói là 100%, các bài tóm lược đều được chấp nhận cho in trong các kĩ yếu của hội nghị vì ban tổ chức muốn có nhiều người dự hội nghị (cũng có nghĩa là tăng thu nhập cho ban tổ chức) cho nên họ không muốn từ chối một bài báo nào.

Tập san khoa học và hệ số ảnh hưởng

Giá trị khoa học của một bài báo không chỉ tùy thuộc vào nội dung, mà tập san công bố cũng đóng một vai trò quan trọng. Chẳng hạn như trong y học một bài báo trên các tập san lớn như New England Journal of Medicine (NEJM) hay Lancet có giá trị hơn hẳn một bài báo trên các tập san y học của Pháp hay Singapore Medical Journal. Điều này đúng bởi vì những công trình nghiên cứu quan trọng thường được công bố trên các tập san lớn và có nhiều người đọc, nhưng quan trọng hơn hết là những tập san này có một hệ thống bình duyệt nghiêm túc.

Uy tín và giá trị của một tập san thường được đánh giá qua hệ số ảnh hưởng (Impact Factor hay IF). IF được tính toán dựa vào số lượng bài báo công bố và tổng số lần những bài báo đó được tham khảo hay trích dẫn (citations). Theo định nghĩa hiện hành, IF của một tập san trong năm là số lần tham khảo trung bình các bài báo được công bố trên tập san trong vòng 2 năm trước. Chẳng hạn như trong 2 năm 1981 và 1982, Tập san Lancet công bố 470 bài báo khoa học nguyên thủy; trong năm 1983 có 10.011 bài báo khác trên các tất cả các tập san (kể cả Lancet) có tham khảo hay trích dẫn đến 470 bài báo đó; và hệ số IF là 10.011/470 = 21,3. Nói cách khác, tính trung bình mỗi bài báo nguyên thủy trên tờ Lancet có khoảng 21 lần được tham khảo đến hay trích dẫn. Vì yếu tố thời gian của việc tính toán, cho nên hệ số IF cũng thay đổi theo thời gian và cách xếp hạng tập san cũng thay đổi theo. Chẳng hạn như vào thập niên 1990s British Medical Journal từng nằm trong nhóm các tập san hàng đầu trong y học, nhưng đến đầu thế kỉ 21 tập san này bị xuống cấp nghiêm trọng. Do đó, tập san nào có hệ số IF cao cũng được hiểu ngầm là có uy tín cao và ảnh hưởng cao. Công bố một bài báo trên tập san có hệ số IF cao có thể đồng nghĩa với mức độ quan trọng và tầm ảnh hưởng của bài báo cũng cao. Xin nhấn mạnh là “có thể” mà thôi, bởi vì qua cách tính vừa trình bày trên, IF là chỉ số phản ánh ảnh hưởng của một tập san, chứ không đo lường hệ số ảnh hưởng của một bài báo cụ thể nào. Một bài báo trên một tập san có hệ số IF thấp nhưng có thể được trích dẫn nhiều lần. Chẳng hạn như một bài báo viết về một phương pháp phân tích thống kế trong di truyền học công bố trên tập san Behavior Genetics (với IF thấp hơn 2), nhưng được trích dẫn và tham khảo hơn 10.000 lần trong 20 năm sau đó!

Khiếm khuyết của hệ số IF đã được nêu lên khá nhiều lần trong quá khứ. Ngay cả người sáng lập ra hệ số IF cũng thú nhận những thiếu sót của hệ số này. Một số bộ môn khoa học có xu hướng (hay truyền thống) công bố ra nhiều bài báo ngắn, hay đơn thuần là họ có truyền thống trích dẫn lẫn nhau, thậm chí tự mình trích dẫn mình! Có nhiều nhà khoa học trích dẫn hay liệt kê những bài báo mà họ hoặc là không hay chưa đọc (nhưng chỉ trích dẫn theo sự trích dẫn của người khác, đây là một vi phạm khoa học). Ngoài ra, những bộ môn nghiên cứu lớn (như y khoa chẳng hạn) có nhiều nhà nghiên cứu và con số bài báo cũng như chỉ số trích dẫn cũng tăng theo. Nói một cách ngắn gọn, con số thống kê bài báo và chỉ số trích dẫn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại vi hơn là chất lượng khoa học. Cũng không loại trừ khả năng những công trình nghiên cứu tồi, sai lầm vẫn được nhiều người nhắc đến và trích dẫn (để làm gương cho người khác). Phần lớn những bài báo được trích dẫn nhiều lần là những bài báo liên quan đến phương pháp, hay thuộc loại điểm báo. Nhiều nghiên cứu “tốt”, có chất lượng thường đi trước thời gian, và người ta chỉ hiểu rõ giá trị của chúng sau nhiều năm sau khi công bố.

Dù bíết rằng hệ số IF có nhiều khiếm khuyết như thế, nhưng hiện nay chúng ta chưa có một hệ thống nào công bằng và tốt hơn để thẩm định chất lượng một tập san. Cho nên, hệ số IF vẫn được sử dụng như là một thước đo chất lượng, với một sự dè dặt và cẩn thận cần thiết.

Cơ chế bình duyệt

Sau khi tác giả gửi bản thảo của bài báo đến một tập san chuyên môn, tổng biên tập hay phó tổng biên tập sẽ xem qua bài báo và quyết định bài báo có xứng đáng được gửi ra ngoài để bình duyệt hay không. Nếu không xứng đáng, tổng biên tập sẽ báo ngay (trong vòng 1 tháng) cho tác giả biết là bài báo không được bình duyệt. Nếu thấy bài báo có giá trị và cần được bình duyệt, tổng biên tập sẽ gửi bản thảo cho 3 (hoặc có khi 4) người bình duyệt.

Những người bình duyệt là những chuyên gia, giáo sư có cùng chuyên môn với tác giả và am hiểu về vấn đề mà bài báo quan tâm. Tác giả sẽ không biết những người này là ai, nhưng những người bình duyệt thì biết tác giả là ai vì họ có toàn bộ bản thảo! Những người bình duyệt sẽ xem xét toàn bộ bài báo, và viết báo cáo đề nghị tổng biên tập nên chấp nhận hay từ chối đăng bài báo. Tuy quyết định cuối cùng là của tổng biên tập, nhưng thông thường chỉ một người bình duyệt đề nghị từ chối bài báo thì số phận bài báo coi như “đã rồi”. Giai đoạn này tốn khoảng 1 đến 4 tháng.

Tùy theo đề nghị của những người bình duyệt, tổng biên tập có thể cho tác giả một cơ hội để phản hồi những phê bình của người bình duyệt, hay từ chối đăng bài. Nếu có cơ hội phản hồi, tác giả phải trả lời từng phê bình một của từng người bình duyệt. Bài phản hồi phải được viết như một báo cáo, và tất cả những thay đổi trong bài báo tác giả phải báo cho tập san biết. Giai đoạn này tốn từ 1 đến 3 tháng. Nếu bài phản hồi không trả lời tất cả phê bình, hay trả lời không thỏa đáng, tổng biên tập có thể từ chối đăng bài ngay mà không cần gửi cho người bình duyệt xem lại. Nếu bài phản hồi cần xem xét lại tổng biên tập sẽ gửi cho những người bình duyệt xem lại một lần nữa và tác giả có khi phải phản hồi một lần sau cùng. Giai đoạn này cũng tốn từ 1 đến 3 tháng.

Nói chung một bài báo từ lúc nộp bài cho đến lúc xuất hiện trên mặt giấy – nếu mọi bình duyệt và phản hồi đều trôi chảy – tốn khoảng 9 tháng đến 12 tháng. Bởi vì thời gian quá lâu như thế, cho nên một số tác giả có khi quyết định tự công bố trước dưới dạng sơ bộ (còn gọi là “pre-print”) để chia sẻ với đồng nghiệp.

Cơ chế bình duyệt có mục đích chính là đánh giá và kiểm tra các bài báo khoa học trước khi chấp nhận cho công bố trên một tạp chí khoa học và còn được ứng dụng trong việc duyệt những đơn xin tài trợ cho nghiên cứu. Trên nguyên tắc, đây là một cơ chế hay và công bằng, bởi vì những người duyệt bài hay công trình nghiên cứu là những người có cùng chuyên môn, họ chính là những người có thẩm quyền và khả năng đánh giá chất lượng của công trình nghiên cứu. Nhưng nhà khoa học cũng chỉ là những người có tình cảm và thiên kiến, cũng là những người chịu sự chi phối của các nhu cầu tất yếu, cũng cạnh tranh, cho nên kết quả duyệt bài khoa học không phải lúc nào cũng hoàn toàn khách quan. Rất nhiều người từng trải qua cái cơ chế này cho rằng đó là một hệ thống không hoàn chỉnh và có khi thiếu công bằng.

Ý nghĩa xã hội của bài báo khoa học

Đọc đến đây, tôi hi vọng bạn đọc đã hiểu được thế nào là một bài báo khoa học. Xin nhắc lại để nhấn mạnh: một bài báo chỉ khi nào được xem là “bài báo khoa học” nếu nó đã qua cơ chế bình duyệt và được công bố trên một tập san chuyên môn. Những bài báo xuất hiện dưới dạng “abstracts” hay thậm chí “proceedings” không thể xem là những bài báo khoa học bởi vì nó không đáp ứng được hai yêu cầu trên. Thế nhưng trong thực tế đã có rất nhiều nhà khoa học, kể cả ở trong nước, có lẽ do hiểu lầm đã liệt kê những “abstracts” và “proceedings” như là những bài báo khoa học trong lí lịch khoa học của họ! Đối với nhiều người không am hiểu hoạt động khoa học thì những ngộ nhận này chẳng ảnh hưởng gì to lớn, nhưng đối với giới làm nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh, một lí lịch khoa học với toàn những “bài báo khoa học” như thế cho biết nhiều về tác giả hơn là khả năng nghiên cứu khoa học của tác giả.

Trên bình diện quốc gia, công bố báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một cách không chỉ nâng cao sự hiện diện, mà còn nâng cao năng suất khoa học, của nước nhà. Ở phương Tây người ta thường đếm số lượng bài báo khoa học mà các nhà khoa học công bố trên các tập chí khoa học để đo lường và so sánh hiệu suất khoa học giữa các quốc gia. Hiện nay, trong bất cứ lĩnh vực nào, phải nhìn nhận một thực tế là hiệu suất khoa của nước ta chưa cao. Phần lớn các công trình nghiên cứu tại nước ta chỉ được kết thúc bằng những buổi nghiệm thu hay luận án. Đối với hoạt động khoa học, cho dù công trình đã được nghiệm thu hay đưa vào luận án tiến sĩ hay thạc sĩ, nếu chưa được công bố trên các diễn đàn khoa học quốc tế thì công trình đó coi như chưa hoàn tất, bởi vì nó chưa qua “thử lửa” với môi trường rộng lớn hơn.

Để xét đề bạt giáo sư trong các đại học Tây phương, ngoài các tiêu chuẩn về giảng dạy, tài trợ nghiên cứu và phục vụ xã hội, một tiêu chuẩn quan trọng số một là số lượng và chất lượng bài báo khoa học của ứng viên. Theo một qui định gần như “bất thành văn”, muốn được đề bạt lên “assistant professor” (giáo sư dự khuyết) ứng viên phải có từ 3-5 bài báo khoa học; một associate professor (phó giáo sư) phải có từ 30 bài báo khoa học trở lên; và một professor (giáo sư) phải có từ 50 bài báo trở lên. Đây chỉ là những tiêu chuẩn rất chung chung và có thể nói là tối thiểu. Cố nhiên, các tiêu chuẩn này còn tùy thuộc vào trường đại học và chuyên môn, cho nên không ai có thể đưa ra một qui định chính xác được.

PHẦN 2: CÁCH TRÌNH BÀY MỘT BÀI BÁO KHOA HỌC

Triều Đông (dựa trên tài liệu trực tuyến của các trường đại học và tạp chí khoa học nghiên cứu của Mỹ)

Phần lớn các tạp chí khoa học ở Mỹ đều áp dụng một dạng thức chuẩn (standard format) cho các bài báo khoa học (scientific papers) thuộc loại cống hiến nguyên thuỷ (original contributions) bao gồm những mục sau, mỗi mục đều có chủ đích nhất định:

1. Tựa bài (Title): Tựa bài thường từ 10 –15 từ (có tạp chí còn rút ngắn xuống dưới 10 từ), phản ánh nội dung chính của bài viết. Một tựa bài tốt không phải nhằm mục đích lôi cuốn hấp dẫn độc giả mà là đề cập thẳng vấn đề muốn giải quyết và dùng những từ chủ yếu (keywords) để những ai nghiên cứu trong cùng một lĩnh vực có thể nhận biết được. Sau tựa bài là tên tác giả, có tạp chí ghi chú chức danh, học hàm học vị, có tạp chí không nhưng cho biết nơi làm việc, địa chỉ email và còn ghi tên người biên tập, ngày nhận bài và ngày chấp thuận đăng (tạp chí PNAS – Proceedings of the National Academy of Sciences).

2. Tóm tắt (Summary or Abstract): Mục đích của phần tóm tắt là giúp độc giả nhận biết bài viết có phù hợp với đề tài mình họ đang quan tâm không. Phần này tóm tắt ngắn gọn (từ 100 đến 200 từ) mục đích của bài viết, dữ liệu trình bày và kết luận chính của tác giả. Có tạp chí (Nature và Science) xem phần này như lời giới thiệu ngắn (brief introduction) về bài viết.

3. Introduction (Giới thiệu): Trong phần này, tác giả xác định đề tài nghiên cứu, phác thảo mục tiêu nghiên cứu và cung cấp cho độc giả đầy đủ cơ sở khoa học để hiểu biết phần còn lại của bài viết. Cần chú ý giới hạn những kiến thức cơ sở này trong các thử nghiệm của tác giả. Mục này sẽ đạt yêu cầu nếu trả lời được những câu hỏi như: (1) Lý do thực hiện nghiên cứu này? (xuất phát từ hiện tượng tự nhiên hay các tư liệu đã có trước), (2) Những kiến thức nào đã có trước về đề tài này? (tổng kết tư liệu, quá trình phát triển ý tưởng trước đó của các tác giả khác, những khẳng định, mâu thuẫn, và khác biệt giữa các tài liệu đã có về đề tài này), (3) Mục đích chính của nghiên cứu là gì?

4. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu (Materials and Methods): Mục này còn được gọi là Experimental details (Dữ liệu thử nghiệm) hay Theoretical basis (Cơ sở lý thuyết). Dữ liệu thu thập được và phương pháp nghiên cứu của tác giả được trình bày ở đây. Mục này khó viết nhất ở chỗ cung cấp vừa đủ chi tiết để hiểu được thử nghiệm nghiên cứu nhưng không làm rối trí độc giả. Nhìn chung, tác giả sẽ phải trả lời những câu hỏi sau: (1) Dữ liệu nào đã sử dụng? (2) Chúng được sử dụng như thế nào? (3) Địa điểm và thời gian hoàn thành thử nghiệm?

5. Kết quả (Results): Mục này tóm tắt những kết quả thử nghiệm và không đề cập đến ý nghĩa của chúng. Dữ liệu được trình bày theo bảng biểu, đồ thị hình vẽ, hình ảnh v.v…Những dữ liệu đã ghi theo bảng không nên trình bày lại theo hình vẽ hay biểu đồ. Những số liệu và bảng biểu tự chúng đã trình bày đầy đủ thông tin mà không cần phải giải thích thêm bằng lời. Mục này nên tập trung vào những xu hướng và khác biệt chính chứ đừng sa vào những chi tiết nhỏ nhặt.

6. Diễn giải và Phân tích kết quả (Discussion): Mục này nhằm: (1) Diễn giải phân tích kết quả, những ưu điểm và hạn chế, tách bạch rõ ràng dữ liệu và suy luận, (2) Mối liên hệ giữa kết quả nghiên cứu của tác giả với những phát hiện khác trong các nghiên cứu trước đó. Điều này cho thấy đóng góp của tác giả bổ sung cho lý thuyết và kiến thức, hay điều chỉnh những sai sót của các đề tài nghiên cứu trước đó. Tất nhiên, người viết phải có những lý lẽ thật lôgích cho những thử nghiệm và suy luận của mình và cũng có thể đề nghị tiếp tục những thử nghiệm trong tương lai để làm sáng tỏ những vấn đề còn bỏ ngỏ trong kết quả của mình.

7. Phần cảm ơn (Acknowledgements) hay Tài liệu tham khảo (Reference): Người viết cảm ơn những người đã cộng tác nghiên cứu với mình và liệt kê tất cả tài liệu đã trích dẫn trong bài viết. Cách trình bày theo thứ tự, tên tác giả, tác phẩm, năm tháng, nơi xuất bản v.v.. có thể khác nhau giữa các tạp chí (trước sau, in nghiêng, in đậm v.v..).

Phần lớn các tạp chí khoa học đều theo cách trình bày trên, tuy nhiên cũng có thể khác nhau chút ít như ghép chung các mục Results và Discussion, hoặc xếp mục Materials and Methods sau mục Discussion. Đối với những tạp chí có đối tượng bạn đọc rộng rãi như Science và Nature thì các bài viết khoa học được rút gọn tối đa vì phải dành trang cho những bài viết khác. Những dữ liệu ít quan trọng và phần lớn nội dung trình bày phương pháp và thử nghiệm, độc giả có thể tìm hiểu thêm trên tạp chí trực tuyến của họ. Cũng có tạp chí không nhất thiết sử dụng đầy đủ tên gọi các tiểu mục như trên tuy nội dung vẫn như vậy, như họ không đặt tiểu mục là Tóm tắt, hay Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, Kết quả, Diễn giải và Phân tích …Ví dụ như bài Evaluating Living Wage Laws in the United States: Good Intentions and Economic Reality in Conflict? đăng trong Economic Development Quaterly (2.2005) có nội dung như sau: What Is a Living Wage? Quantifying the Concepts Measuring Poverty, Thresholds Regional Living Costs, Estimating Costs of Living Wage Ordinances, Data Sources, Wage and Benefit Increases, Cost Estimates, Alternative Adjustments for Covered Firms, Contractors – Only Ordinances, Adjustments under Areawide Ordinances, Labor Substitution, Conclusions, Notes, References (không đánh số La Mã); bài Estimation with Price and Output Uncertainty đăng trên Journal of Applied Economics (12.2005) với nội dung I. Introduction, II. Additive output uncertainty, III. Multiplicative output certainty, IV. Empirical exercise, V. Results & Conclusing và References, hay bài Employment Generation for the Rural Poor in Asia:

Perspectives, Patterns, and Policies đăng trên Asian Development Review (1.2006) với I. Introduction, II. Models of Rural Development, III. Rural Employment: the Evidence , IV. Other Stylized Patterns In Rural Employment, V. Policies for Employment Generation, VI.Concluding Remarks và References.

22
Aug

Presenting :)

Một buổi sáng đẹp giời….theo chân lục đại mĩ nhân A3 đi làm presenting về chủ để Xích Lô (cyclo)….4 con xế rong ruổi từ sáng sớm để đến hồ Gươm…..Có một nhận xét vô cùng chính xác là nóng….nắng không đỡ được………….

Chuyến đi quả thật là thú vị mặc dù trình nói của em còn xách dép cho mấy mĩ nhân còn lại…..Gặp bao nhiêu là người thú vị…Một ông người Ấn theo đạo Hồi đen như củ súng, oa hai chị người Mỹ da trắng và rất xinh ( chắc cũng trắng xấp xỉ thằng người yêu em ….)

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Theo lời chú thích của Nhung cái em mặc áo đen có 15 tuổi thôi nhưng đẹp zai dễ sợ….Tiếc là em ý chụp không ăn ảnh….. Còn đứa em thứ 2 hình như lại là fan của Liverpool…..He he….

Photobucket

Photobucket

Photobucket

Photobucket



Photobucket Photobucket Photobucket
20
Jun

Lạm phát ở Việt Nam tăng vỡ mặt

magnify

inflation-70sẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT

TS. PHẠM HUY HÙNG – Chủ tịch HĐQT ViettinBank

Lạm phát tăng cao trong những tháng đầu năm 2008 đã tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội, trong đó có hoạt động của các Ngân hàng thương mại (NHTM). Đối với các NHTM, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, lạm phát tăng cao, sức mua đồng tiền giảm xuống, đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động huy động vốn, cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng.

1. Ảnh hưởng của lạm phát đến hoạt động của ngân hàng

Đối với hoạt động huy động vốn: do lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Để huy động được vốn, hoặc không muốn vốn từ ngân hàng mình chạy sang các ngân hàng khác, thì phải nâng lãi suất huy động sát với diễn biến của thị trường vốn. Nhưng nâng lên bao nhiêu là hợp lý, luôn là bài toán khó đối với mỗi ngân hàng. Một cuộc chạy đua lãi suất huy động ngoài mong đợi tại hầu hết các ngân hàng (17% – 18%/năm cho kỳ hạn tuần hoặc tháng), luôn tạo ra mặt bằng lãi suất huy động mới, rồi lại tiếp tục cạnh tranh đẩy lãi suất huy động lên, có ngân hàng đưa lãi suất huy động gần sát lãi suất tín dụng, kinh doanh ngân hàng lỗ lớn nhưng vẫn thực hiện, gây ảnh hưởng bất ổn cho cả hệ thống NHTM.

Lạm phát tăng cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép. Mặt khác, do lãi suất huy động tăng cao, thì lãi suất cho vay cũng cao, điều này đã làm xấu đi về môi trường đầu tư của ngân hàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện. Do sức mua của đồng Việt Nam giảm, giá vàng và ngoại tệ tăng cao, việc huy động vốn có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên thật sự khó khăn đối với mỗi ngân hàng, trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài hạn đối với các khách hàng rất lớn, vì vậy việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn trong thời gian qua tại mỗi ngân hàng là không nhỏ. Điều này đã ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các ngân hàng, nên rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá xảy ra là điều khó tránh khỏi.

Do lạm phát cao, không ít doanh nghiệp cũng như người dân giao dịch hàng hóa, thanh toán trực tiếp cho nhau bằng tiền mặt, đặc biệt trong điều kiện lạm phát, nhưng lại khan hiếm tiền mặt. Theo điều tra của Ngân hàng thế giới (WB), ở Việt Nam có khoảng 35% lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng, trên 50% giao dịch không qua ngân hàng, trong đó trên 90% dân cư không thanh toán qua ngân hàng. Khối lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng lớn, NHNN thực sự khó khăn trong việc kiểm soát chu chuyển của luồng tiền này, các NHTM cũng khó khăn trong việc phát triển các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Vốn tiền thiếu, nhiều doanh nghiệp thực hiện mua chịu, bán chịu, công nợ thanh toán tăng, thoát ly ngoài hoạt động.

Như vậy lạm phát tăng cao đã làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các NHTM. Sự không ổn định của giá cả, bao gồm cả giá vốn, đã làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư và dân chúng, gây khó khăn cho sự lựa chọn các quyết định của khách hàng cũng như các thể chế tài chính – tín dụng. Vì vậy xét ở góc độ các NHTM cần có những biện pháp kiềm chế lạm phát.

2. Các biện pháp kiềm chế lạm phát của ngân hàng thương mại

Kiềm chế lạm phát đến nay đã có tác dụng bước đầu, NHNN đã từng bước ổn định được thị trường tiền tệ, kiểm soát tăng trưởng tín dụng của từng NHTM. Song một điều nhận thấy rõ là những dấu hiệu của bất ổn vĩ mô chưa thuyên giảm, nhập siêu vẫn rất lớn, thâm hụt thương mại cao, trong khi một số doanh nghiệp lại thiếu vốn để sản xuất, xuất khẩu. Vì vậy, những tháng còn lại của năm 2008, tín dụng và lãi suất của các NHTM cần được điều chỉnh hợp lý hơn để vừa kiểm soát được tăng trưởng tín dụng, đáp ứng vốn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, vừa kiểm soát được lạm phát, vừa góp phần ổn định vi mô. Cụ thể:

Thứ nhất, kiểm soát tăng trưởng tín dụng

Mỗi NHTM tự điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo hướng giảm dư nợ và tỷ trọng tín dụng trung, dài hạn để phù hợp với quy mô và thời hạn huy động vốn. Tăng vòng quay vốn tín dụng, sẽ giảm bớt khó khăn do thiếu vốn. Trước mắt chỉ nên dành vốn vào những dự án nhanh tạo ra khối lượng hàng hoá đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội.

Thứ hai, điều hành giá mua và bán vốn (lãi suất) ổn định và theo xu hướng giảm dần

Tăng lãi suất là giảm cung tiền, kiềm chế tăng trưởng tín dụng nóng. Tuy nhiên, lãi suất liên tục tăng cao không chỉ có khó khăn rất lớn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn vay, mà còn kho khăn cho NHTM trong việc huy động vốn trung và dài hạn, nhưng nó chỉ là biện pháp trong ngắn hạn. Khi gói giải pháp tài chính – tiền tệ đã được triển khai một cách đồng bộ, lạm phát được kiểm soát ở mức độ nhất định, thì một trong những công cụ cần điều chỉnh ngay – đó là lãi suất kinh doanh của các NHTM.

Thực tế cho thấy, sau khi NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 12% và 14%/năm vào tháng 5 và 6 năm 2008 vừa qua, đã xuất hiện cuộc chạy đua lãi suất giữa các NHTM, mà mở đầu là các NHTMCP nhỏ, buộc các NHTM lớn cũng phải theo nếu không muốn mất khách hàng, kéo theo một lượng vốn nhất định. Lãi suất tăng cao để thu hút tiền về, kiềm chế tăng trưởng tín dụng nóng là rất cần thiết. Song cũng chính từ cuộc đua lãi suất của các NHTM vừa qua đã có tác động tiêu cực đối với thị trường tài chính, nền kinh tế và môi trường kinh doanh của chính các ngân hàng. Đối với các NHTM: chi phí huy động vốn cao, làm giảm khả năng sinh lời, khiến ngân hàng phải tăng cường nới rộng tín dụng, làm tăng khả năng rủi ro trong hoạt động. Đối với thị trường tài chính: lãi suất tiết kiệm càng cao, càng làm cho giá chứng khoán giảm xuống, huy động vốn của các doanh nghiêp trên thị trường tài chính càng khó khăn, gây áp lực lớn về vốn trung và dài hạn lên các NHTM. Còn đối với nền kinh tế: lãi suất huy động và cho vay ở mức cao, đã làm giảm đầu tư tư nhân, làm tăng chi phí vay mượn, và giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế. Tình trạng này kéo dài sẽ làm cho nền kinh tế trở nên xấu hơn, vi mô tiếp tục bất ổn hơn, ảnh hưởng lớn đến an sinh xã hội. Như vậy, tăng lãi suất chỉ là biện pháp cấp bách trong ngắn hạn, một khi tăng lãi suất bắt đầu tỏ ra không hiệu quả xét cả ở khía cạnh vĩ mô và vi mô, thì việc duy trì lãi suất ổn định và theo xu hướng giảm dần, cần được đặt ra đối với các NHTM ở những tháng còn lại của năm 2008.

Để xu hướng này diễn ra như mong muốn, thì NHNN có vai trò rất quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát với những chế tài cụ thể và đủ mạnh đối với các NHTM cố tình tăng lãi suất huy động vốn quá cao vượt quá ngưỡng an toàn, đưa những chi phí bất hợp lý vào giá của khoản vay, để làm lành mạnh môi trường đầu tư, cho vay của chính các ngân hàng.

Liên quan đến lãi suất tín dụng là phạm trù tỷ giá hối đoái. Ở Việt Nam, do tiền đồng chưa phải la đồng tiền chuyển đổi, trong khi tình trạng đôla hoá lại ở mức cao, vì vậy xử lý lãi suất không thể tách rời việc xử lý tỷ giá hối đoái. Vừa qua tỷ giá hối đoái đã được điều chỉnh với biên độ +/- đê khuyến khích xuất khẩu và chủ động nhập khẩu. Cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến cho rằng nên phá giá đồng tiền Việt Nam với biên độ rộng hơn nữa để khuyến khích xuất khẩu.

Thứ ba, phát triển các dịch vụ phi tín dụng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt

Phát triển các dịch vụ phi tín dụng vừa có điều kiện tăng thu nhập cho ngân hàng, vừa thu hút khách hàng đến với ngân hàng để tăng khả năng huy động vốn với chi phí thấp. Để tăng tỉ lệ dịch vụ phi tín dụng, về phía các ngân hàng cần:

Nâng cao chất lượng và tính tiện ích của dịch vụ theo hướng: (i) Đối với dịch vụ truyền thống: đây là yếu tố nền tảng không chỉ có ý nghĩa duy trì khách hàng truyền thống, tạo nguồn thu nhập lớn nhất cho ngân hàng, mà còn phát triển các dịch vụ mới trên nền tảng của dịch vụ truyền thống để thu hút các khách hàng tiềm năng. (ii) Đối với các dịch vụ hiện đại, cần thực hiện chiến lược Marketing sâu rộng, có chính sách khuyến khích khách hàng (chính sách phí, khuyễn mãi…) sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử như dịch vụ mở tài khoản cá nhân, thanh toán, chi trả thu nhập theo hướng không dùng tiền mặt qua thẻ ATM.

Bên cạnh kênh truyền thống để cung ứng các dịch vụ ngân hàng bán lẻ đến người sử dụng, cần phát triển các kênh phân phối hiện đại như các loại hình giao dịch tại nhà, qua điện thoại, internet, ngân hàng tự phục vụ (self-service outlest)…

Thứ tư, nâng cao hiệu quả quản trị tài sản nợ – có, đặc biệt là quản trị thanh khoản

Tình trạng lộn xộn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng trong thời gian qua, suy cho cùng đều bắt nguồn từ việc các ngân hàng chưa quản lý tốt rủi ro thanh khoản. Do sự yếu kém từ quản trị tài sản Nợ, tài sản Có và sự thiếu hụt của các công cụ quản lý hữu hiệu, trong khi các NHTM lại muốn sử dụng triệt để phần vốn này cho các hoạt động kinh doanh sinh lời. Vì vậy một vài ngân hàng thiếu thanh khoản phải vay với lãi cao trên thị trường là điều khó tránh khỏi. Để khắc phục tình trạng này, các ngân hàng phải xây dựng qui trình kiểm soát và quản lý thanh khoản nhằm đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ thanh toán đến hạn, đảm bảo an toàn trong hoạt động, giảm thiểu rủi ro thanh khoản.

Thứ năm, nâng cao vị thế, chất lượng hoạt động, phục vụ của ngân hàng để tạo niềm tin cho dân chúng gửi tiền vào ngân hàng bằng những hành động thiết thực

Niềm tin phải được xây dựng trên cơ sở thông tin minh bạch và kịp thời. Mọi sự tù mù sẽ là “đất” cho tin đồn lộng hành. Vì vậy mỗi ngân hàng cần phải minh bạch hoá thông (chính sách lãi suất, chính sách đầu tư, chính sách khách hàng, tình hình nợ xấu…). Xây dựng hệ thống thông tin để hình thành cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, phân tích để đưa ra những quyết sách điều hành nhanh nhạy và khoa học.

Chú ý đến quyền lợi của khách hàng, bao gồm cả khách hàng gửi tiền và khách hàng vay cũng như khách hàng sử dụng những dịch vụ của ngân hàng.

Thứ sáu, các NHTM cần tăng cường liên kết, hợp tác, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm hoạt động ngân hàng trên các lĩnh vực; kết nối các nghiệp vụ, sản phẩm dịch vụ, tạo ra hệ thống phục vụ khách hàng rộng lớn, hiệu quả, tiết giảm chi phí

Tăng cường sự đồng thuận giữa các NHTM, thành viên trong hiệp hội Ngân hàng Việt Nam trong nhiều chính sách của NHTM vì lợi ích và sự ổn định, kiềm chế lạm phát và phát triển kinh tế đất nước, vì lợi ích và sự phát triển của số đông cộng đồng doanh nghiệp, của các tầng lớp dân cư, vì lợi ích hiệu quả kinh doanh của từng NHTM, cũng như của cả hệ thống NHTM Việt Nam.

3. Vai trò của Ngân Hàng Công Thương Việt Nam đối với các doanh nghiệp trong tình hình hiện nay

Ngân Hàng Công Thương Việt Nam (NHCTVN) là một NHTM Nhà nước lớn, chủ lực trong ngành ngân hàng, có vai trò hết sức tích cực đối với phát triển nhiều doanh nghiệp, nhiều ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Đứng trước những thách thức, khó khăn chung của nền kinh tế, NHCTVN đã và đang thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, đóng góp hết sức mình vào thực hiện mục tiêu hàng đầu là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện để các doanh nghiệp vượt qua được giai đoạn khó khăn, sớm phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh.

3.1. Hoạt động được coi trọng hàng đầu là tăng trưởng huy động nguồn vốn, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn hợp lý của khách hàng doanh nghiệp.

NHCTVN đã triển khai mạnh mẽ, liên tục các đợt phát hành tiết kiệm, kỳ phiếu, chính sách lãi suất cạnh tranh, linh hoạt, hình thức khuyến mãi và giải thưởng hấp dẫn đối với dân cư. Liên tục mở rộng mạng lưới các điểm bán lẻ trên toàn quốc, cộng với chiến dịch quảng cáo, tuyên truyền rộng rãi, đặc biệt NHCTVN hiện nay là NHTM Nhà nước đầu tiên thực hiện kéo dài thời gian giao dịch hàng ngày liên tục (không có giờ nghỉ trưa) đến 18h và làm việc sáng thứ Bảy hàng tuần. Kết quả nguồn vốn từ dân cư liên tục tăng ổn định 17% so với đầu năm, là nguồn vốn hết sức quan trọng trong điều kiện nguồn vốn nhàn rỗi từ doanh nghiệp giảm do chi phí vốn tăng.

3.2. Ngoài các kênh huy động vốn truyền thống, thời gian qua NHCTVN đã tích cực khai thác nguồn vốn thông qua hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu với nước ngoài.
NHCTVN có quan hệ đại lý với 800 ngân hàng trên 80 quốc gia trên toàn cầu, tại Việt Nam NHCTVN thành lập và đưa vào hoạt động Sở giao dịch 3 là Trung tâm xử lý tập trung giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu, đây là mô hình hiện đại của các ngân hàng quốc tế lần đầu tiên có ở Việt Nam – đây là chiến lược cạnh tranh đưa chất lượng phục vụ thanh toán xuất nhập khẩu của NHCTVN dẫn đầu tại thị trường trong nước. Hiện nay NHCTVN sử dụng được hạn mức vốn ngoại tệ từ các ngân hàng nước ngoài qua tái tài trợ các L/C nên khi nguồn vốn ngoại tệ trong nước gặp khó khăn, NHCTVN vẫn duy trì khả năng thanh toán ngoại tệ rất tốt và tiếp tục đáp ứng nhu cầu cho khách hàng của NHCTVN.

3.3. Về tín dụng

Phù hợp với chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ, NHCTVN đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng thiết yếu như nhập khẩu xăng dầu, sắt thép, thu mua chế biến lương thực, thuỷ hải sản, sản xuất kinh doanh phân bón, thuốc tân dược… NHCTVN đã tăng thêm hạn mức tín dụng cho các doanh nghiệp đầu mối nhập xăng dầu hàng ngàn tỷ đồng; Cho vay thu mua chế biến nông sản, thuỷ sản xuất khẩu hơn 5 ngàn tỷ; Đảm bảo tiến độ giải ngân các dự án đã cam kết cho vay. NHCTVN hạn chế và kiểm soát chặt chẽ đối với cho vay kinh doanh bất động sản và chứng khoán. Chính vì vậy, NHCTVN vẫn giữ vững các khách hàng truyền thống, gắn bó, sản xuất kinh doanh có hiệu quả và thu hút thêm một số khách hàng mới có uy tín trên thị trường. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của toàn hệ thống NHCTVN vẫn tăng trưởng 18.000 tỷ đồng so với đầu năm, đạt 119.000 tỷ đồng. NHCTVN vẫn khẳng định vai trò ngân hàng chủ lực cung ứng vốn tín dụng, đầu tư của nền kinh tế, hỗ trợ và góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.

Để chia sẻ khó khăn với khách hàng doanh nghiệp, mặc dù lãi suất huy động đang ở mức rất cao, NHCTVN cũng đã tuyên bô giảm lãi suất cho vay từ 0,5%/năm đối với VNĐ và đến 2%/năm đối với USD.

3.4. Ngoài việc đáp ứng vốn thông qua kênh tín dụng, NHCTVN đã vận hành hết sức linh hoạt việc mua, bán ngoại tệ theo nhu cầu của các doanh nghiệp trong cả 2 giai đoạn dư thừa và khan hiếm ngoại tệ

NHCTVN cũng đã giữ vững cam kết thanh toán đối với các ngân hàng nước ngoài. Ngoài số lượng ngoại tệ khoảng 600 triệu USD mua của Ngân hàng Nhà nước, NHCTVN đã áp dụng mọi biện pháp để thu hút nguồn ngoại tệ. Trong nhiều trường hợp, ngân hàng làm người trung gian giữa người mua, người bán mà không hưởng phí nhằm giảm bớt chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp mua ngoại tệ. Kết quả là mặc dù trong tình trạng khan hiếm, doanh số bán ngoại tệ của NHCTVN cho các doanh nghiệp vẫn tăng 30% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp hoàn toàn yên tâm khi mở L/C và thanh toán qua NHCTVN.


3.5. Hoạt động trên thị trường tiền tệ

Hoạt động thị trường tiền tệ từ đầu năm 2008 đến nay liên tục đối mặt với những biến động lớn về lãi suất, tỷ giá có thể nói là những khó khăn dồn dập cho kinh doanh ngân hàng. Mặc dù vậy, NHCTVN luôn giữ chủ động, thích ứng nhanh với thị trường, đảm bảo tốt khả năng thanh toán. NHCTVN thực thi nghiêm túc mọi chỉ đạo của Chính phủ và NHNN nhằm kiềm chế lạm phát: Tăng dự trữ bắt buộc, mua tín phiếu NHNN phát hành, hỗ trợ thanh khoản qua thị trường liên ngân hàng đối với các NHTM. Có một cơ cấu tài sản hợp lý nên trong những thời điểm khó khăn nhất của thị trường về thanh khoản NHCTVN luôn là ngân hàng vững vàng nhất về thanh toán, khẳng định vai trò của một NHTM lớn và có uy tín nhất ở Việt Nam – hỗ trợ tốt nhất cho các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong thời gian tới, NHCTVN sẽ tiến hành cổ phần hoá song song với việc hình thành Tập đoàn Tài chính – Ngân hàng Công thương Việt Nam nhằm tăng tiềm lực tài chính và tối ưu hoá việc phân bổ các nguồn lực (công nghệ- con người – tài chính). Mặt khác NHCTVN đã, đang và sẽ liên kết, hợp tác với các công ty, tập đoàn lớn, các Hiệp hội thông qua các Thoả thuận hợp tác nhằm khai thác, tận dụng các thế mạnh của mỗi bên vì sự phát triển của các doanh nghiệp. Góp phần củng cố vị thế, uy tín của mình trên thị trường trong nước và quốc tế vì sự phát triển bền vững của chính ngân hàng và của cả các doanh nghiệp Việt Nam.

SOURCE: Tham luận của TS. Phạm Huy Hùng – Chủ tịch Hội đồng quản trị NHCTVN trong Hội thảo “Lạm phát, các giải pháp kiềm chế lạm phát và hỗ trợ doanh nghiệp trong tình hình hiện nay” tại Tp. Hồ Chí Minh – tháng 7 năm 2008

Ngày xưa, (lại hai chữ ngày xưa) mua bánh mì là 2000 một cái, bây giờ gần 10k mà chẳng ngon. Ngày xưa, mua rau là 500 một mớ, bây giờ mỗi bữa gần 10k tiền rau. Ngày xưa….abc blap blap….

17
May

Ảnh lớp 12A3

Photobucket

Ảnh chụp nét nhưng sao mà scan lên mờ thế ???


Photobucket

Sáng nay chợt nhớ ra nhiều bạn không có ảnh lớp nên tớ đem đi scan lại…Hơi mờ nhưng mà méo mó có hơn không…Bà con thông cảm…Em đi scan là tích cực lắm rùi…….


Photobucket